>Học về IT. Ngành nào học gì ?

>1. Tin học văn phòng
2. Thiết kế đồ hoạ
3. Thiết kế web
4. Quản trị mạng
5. Thiết kế vi mạch
6. Phần mềm (lập trình)

1 Tin học văn phòng

Nhiều người không phân biệt học tin học văn phòng và học ngành CNTT. CNTT (hay còn gọi là IT) là một khái niệm mô tả nhiều ngành nghề. CNTT hiểu đơn giản là học những công nghệ phục vụ cho việc lưu trữ, xử lý, truyền tải thông tin. Nếu nghĩ như vậy, Tin học văn phòng có thể xếp vô CNTT. Lập trình, làm web, xử lý đồ hoạ, cài đặt máy tính cũng có thể xem là việc làm trông ngành CNTT. Các bài sau sẽ làm rõ thêm, ở đây tôi nói trước về tin học văn phòng.Rất nhiều người lo sợ tin học văn phòng. VN có 2 chuẩn đánh giá thông qua bằng A, B tin học. Với 2 bằng này, người học biết cách sử dụng máy tính. Trong đó, bằng A có thể làm: mở máy, quản lý thư mục, tập tin, đánh chữ, làm bảng tính đơn giản. Bằng B có thể làm tốt việc làm bảng tính hơn… Tuy nhiên cả 2 bằng này không nói gì việc cài đặt máy tính (cài hệ điều hành) hay khắc phục các lỗi cơ bản của máy tính. Vì lẽ đó, người ta có thêm một “nghề” Kỹ thuật viên máy tính (nói thêm sau).Như vậy, tin học văn phòng giống như là điều kiện bắt buộc một người dùng máy tính phải biết. Cái này có thể tự học hoặc đi học một khoá ngắn hạn 2 tháng là xong. Quá trình làm việc chịu khó quan sát, học hỏi để nắm nhiều hơn. Tiếc là nhiều người làm văn phòng bây giờ không làm tốt Word (đánh chữ) và bảng tính đơn giản, không biết font, cách chỉnh gõ tiếng Việt.

__________________

2. Thiết kế đồ hoạ

Về thiết kế đồ hoạ:Người ta thường nói: học đồ hoạ, làm đồ hoạ, graphic, design… là nói đến thiết kế đồ hoạ. Ngành này ứng dụng công nghệ thông tin để tạo ra sản phẩm “số”. Nghành này không cần học lập trình, mạng miết gì cả. Người làm đồ hoạ tốt là người có năng khiếu về nghệ thuật. Vì vậy, ngành này hợp với dân kiến trúc, mỹ thuật. Tay ngang mà lao đầu vào sớm muộn gì cũng bỏ.Để dễ hình dung, bạn hãy nhìn một tờ rơi, mẩu quảng cáo đẹp và nghĩ xem mình có thể làm lại được không? Nâng cao hơn, mình có thể làm được những dạng tờ rơi, trang quảng cáo đó không. Nếu tự tin thì hãy vào!

Việc thiết kế đồ hoạ yêu cầu người có chút sáng tạo, có hiểu biết về màu sắc, ánh sáng, bố cục. Hiểu biết về hội hoạ, nhiếp ảnh là lợi thế. Bên cạnh đó, bạn phải có tư duy sáng tạo, vì vậy kiến thức tổng hợp về văn hoá, lịch sử là cần thiết. Ví dụ thiết kế mẫu mã gì đó có dính đến trống đồng, bạn phải hiểu về văn hoá, lịch sử xung quanh trống đồng.

Sau khi có khả năng nói trên, bạn chỉ cần học phần mềm thiết kế đồ hoạ. Nổi tiếng có Photoshop cùng loạt phần mềm của hảng Adobe. Làm đồ hoạ 3 chiều có 3DMax, Maya… Việc học phần mềm mất khoảng 1 năm để am hiểu. Thường sinh viên Mỹ thuật có thể tự học hoặc tìm các khoá 3-4 tháng. Phần lớn, người rành nghề là người làm nhiều trên các phần mềm. Nói chung, cái sự “học” thiết kế đồ hoạ không nặng về công cụ, mà nặng về sáng tạo.

Từ Design (thiết kế) thường lẫn lộn giữa Thiết kế phần mềm và Thiết kế đồ hoạ. Riêng với Đồ hoạ cũng có khi lẫn giữa thiết kế đồ hoạ (mỹ thuật) với lập trình đồ hoạ (phần mềm).


3. Thiết kế web – Lập trình web

Nhiều người, nhiều công ty tôi từng gặp trách tôi sao làm 1 website tới mấy chục triệu. Trong khi đó có người nói làm có 1-2 triệu. Với tình huống này, ban đầu tôi cố gắng giải thích cho họ hiểu. Thường, các dự án với những cty này này, người này rất khó thành công. Sau này tôi thường từ chối khi gặp những khách hàng như thế.Tạm chia “làm web” ra thành 2 dạng: thiết kế và lập trình. Thiết kế ở đây nói về ý tưởng cho trang web, lập trình nói về triển khai ý tưởng.Hãy tưởng tượng cty bạn cần làm một trang web cung cấp thông tin cơ bản về cty và cung cấp vài dịch vụ cho khách hàng. Bạn có thể lên internet lấy vài mẫu giao diện free xài. Bạn cũng có thể tìm một mã nguồn free về xài, chỉ tốn 1-2 triệu cho người sửa sang là xong. Thật là tiện lợi!

Nhưng, chắc có người nói “ủa, sao tao thấy web cty mày giống giống ở đâu”… Sự khác biệt không có… Ý tưởng là những suy nghĩ về cách tổ chức một trang web, giống như xây nhà vậy. Mình phải nghĩ ra trang web có mục gì, để chỗ nào, màu gì, chữ gì, font gì… Việc này tạm xem là cho người thiết kế. Sau khi nghĩ xong thì lên máy, mở chuong trình đồ hoạ lên làm. Làm xong thì phải chia hình ảnh, khung… ra để cho bên lập trình sử dụng.
Như vậy việc này chưa cần “lập trình” gì cả.

Bây giờ đến người lập trình tổ chức dữ liệu, viết công cụ cho người ta cập nhật và hiển thị dữ liệu lên giao diện đã có. Yêu cầu người làm phải có kiến thức về lập trình web, về lập trình tổng quát. Thường các trường đại học không dạy kỹ về một ngôn ngữ nào. Thay vào đó, sinh viên tự học và được rèn luyện qua một số đồ án. Nếu học khoá ngắn hạn về “thiết kế-lập trình web” thì khả năng chỉ làm được các trang web đơn giản như web về công ty hoặc lấy mã nguồn có sẵn để làm diễn đàn (vì yêu cầu chỉ có thế).

4. Quản trị mạng

Tới quản trị mạng đúng không?
Anh em không nhắc nên quên.
—–Giới CNTT ngầm hiểu quản trị mạng là IT. IT thường thiết kế, cài đặt, vận hành hệ thống mạng máy tính. Người làm IT được phân biệt với người Software. Thường IT lo mạng cho một công ty nào đó, cty có 20 máy trở lên là cần 1 IT; 1 IT có thể quản gần 100 máy.Nhiều người không làm quản trị mạng nhìn IT bằng nửa con mắt “thằng đó chả làm gì mà lương cao”. Nuôi IT như nuôi cứu hoả, nuôi bộ đội. Đất nước 100 năm không có chiến tranh như không thể 1 ngày không có quân đội.

Như vậy, học cài đặt mạng sơ sơ, vận hành sơ sơ là có thể làm IT (học nghề). Công ty lớn hơn, cần bảo mật mạng, mail server, web… thì cần IT am hiểu một ít phần mềm và nền tảng phần cứng mạnh (đại học hoặc các bằng chuyên môn của các đại gia thiết bị mạng).

Ví dụ một công ty chứng khoán phải kết nối mạng với Sở Giao Dịch, với nhiều ngân hàng: IT phải thiết kế (hoặc thuê) rồi thẩm định, vận hành mạng. Ngoài ra, IT còn nắm hệ phần mềm chạy trên mạng này cho vững để khắc phục sự cố. Không đòi hỏi IT lập trình được, nhưng phải nắm được hoạt động của phần mềm.

Tóm lại, ai yếu (về tiền, thời gian và cả năng lực học hành) thì học nghề, trung cấp là có thể làm quản trị mạng. Ai mạnh thì học đại học luôn cho có đủ kiến thức nền. Riêng các bằng cấp về mạng thì có thể tự học hoặc luyện ở trung tâm nào đó. Làm IT cái quan trọng thực hành nhiều, đụng độ và khắc phục nhiều tình huống thì sẽ hơn người.

__________________

5. Thiết kế vi mạch

Số 5: Thiết kế vi mạch (chắc đổi lại là lập trình vi mạch): tôi không rành lắm. Chỉ có vài thông tin thôi.
Ngành này có dính nhiều đến điện tử. Có ai tự hỏi làm sao để làm đồng hồ điện tử, làm sao làm các thiêt bị điều khiển tự động, làm các card mành hình…? Nếu muốn tìm hiểu thì có thể theo học điện tử và lập trình vi mạch. Nếu có người thiết kế rồi thì mình lập trình trên đó. Việc lập trình vi mạch nhằm điều khiển các thông số mà người ta đã thiết kế để đáp ứng các thao tác của người dùng. Các phần mềm thiết kế, mô phỏng, lập trình vi mạch sẽ hỗ trợ trong việc này. Thường ngôn ngữ C hoặc giống C là ngôn ngữ được dùng trong lĩnh vực này nhiều nhất.

6. Phần mềm (lập trình)

Chủ đề này quá rộng, không biết tôi nói được bao nhiêu.Dựa trên số bạn bè tôi quen biết từ học đại học, tôi có thể nói trên 50% người học ngành CNTT ra đều làm phần mềm.Hãy nghĩ từ những việc nhỏ trước. Bạn có bao giờ tự nghĩ ra làm game chơi bài, chơi gỡ mìn như của Microsoft; bạn có bao giờ nghĩ ra việc làm game chơi caro, rồi game online? Bạn có bao giờ nghĩ mình làm một phần mềm giống như Microsoft Word? Bạn có bao giờ nghĩ mình làm một trang web hoành tráng như Ebay??? Nếu muốn như vậy, thì đi theo phần mềm là đúng rồi.

Có thể bạn học CNTT và ra trường, nhưng chưa chắc bạn theo được phần mềm. Ngành nghề nào cũng cần có đam mê, có những yếu tố để xem mình có “hợp” không. Bạn không thích tỉ mỉ, không thích đọc sách tài liệu tiếng Anh nhiều, không thích đổi mới, không thích lắng nghe ý kiến của nhóm, rất khó theo phần mềm (Đôi khi không theo mà bạn có thể làm sếp ở một công ty kinh doanh gì đó).

Các trường đại học đều đào tạo CNTT với chương trình gần giống nhau. Cần 1,5 năm cho học căn bản; cần 2-3 năm cho học chuyên ngành. Tốt nhất là học nghiêm túc hết các môn. Ai giỏi thì miễn bàn, ai trung bình thì ráng học thêm, tự học. Nhiều trường không dạy hoặc dạy ít về ngôn ngữ lập trình. Họ chỉ dạy nguyên lý, sau đó anh em tự đọc sách, tự học pascal, C/C++, C#, java, SQL, linux…. Những thông số về máy móc, server, hệ thống mạng có thể được tự học dễ dàng. Như vậy, 4 năm đại học có thể giúp ta nắm cơ bản ngôn ngữ lập trình, nắm cơ bản mạng. Ra trường buộc chúng ta phải làm được 1 phần mềm quản trị nhân sự nho nhỏ, một web site trường học nho nhỏ và có thể cài đặt máy móc, server, hệ thống mạng… Có thể tôi nói yêu cầu hơi cao, nhưng là người từng trải, tôi tin là sinh viên nào cũng có thể làm được.

Dĩ nhiên, để đạt được những điều ấy, mỗi ngày bạn cần có ít nhất 2 tiếng ngồi lập trình, học hỏi gì đó trên máy (vào ddth này vừa thôi) trong 2-3 năm. Bạn đừng bao giờ hỏi giảng viên học gì, thi gì mà hãy học hết, làm bài tập hết về các môn quan trọng liên quan đến phần mềm.

Tôi không rõ các trường chuyên đào tạo CNTT như Apptech, Fpt, Niit đào tạo thế nào, sinh viên học thế nào, tuy nhiên, nhìn vào yêu cầu trên, các bạn thấy có sự tương ứng thì các bạn cứ vui mà học.

__________________

Số 7: Hệ thống thông tin

Hy vọng nói xong cái này là xong lời hứa với bà con. Sau đó ai có théc méc gì thì tôi cố gắng trả lời thêm.Bây giờ tưởng tượng mình làm giám đốc CNTT của một công ty lớn như… Frudential Việt Nam chẳng hạn (tôi ko có ý quảng cáo thằng này đâu, thậm chí tôi còn ghét nó). Cty này có hàng chục ngàn đại lý và hàng trăm ngàn khách hàng ở VN. Họ muốn quản lý chi tiết từng đại lý, từng khách hàng. Hằng ngày, hàng tuần có thể xem thông tin về tiền bạc, lời lỗ, ai vi phạm, ai nghỉ, bồi thường cho ai… Như vậy, vị giám đốc CNTT phải nghĩ ra có những dạng quản lý nào: nhân sự, đại lý, khách hàng, tài chính, rủi ro… Ôi thôi là quá nhiều.Vậy, nếu mình không biết nghiệp vụ của cty đó, thì mình chịu chết. Phần mềm phải đi theo nghiệp vụ và nghiệp vụ sẽ có điều chỉ theo phần mềm. Một SV ra trường, chắc chắn không thể đảm đương hệ thống này được. Thậm chí chỉ kêu làm quản trị nhân sự thì mình cũng bối rối. Đơn giản, mình không biết quản trị nhân sự là làm gì, quản lý thế nào, tiền lương thế nào, đóng thuế thế nào, bảo hiểm thế nào…

VD làm xong hệ thống này, vị giám đốc CNTT nghỉ, qua ngân hàng Sacombank làm. Lão tổng giám đốc ngân hàng này nói “anh xây dựng hệ thống thông tin thống nhất cho tôi”. Lại phải làm quản lý nhân sự, tài chính, khách hàng…

Rõ ràng, có những cái chung trong những hệ thống này. Thường ai làm kinh nghiệm lâu năm mới nắm. Một câu hỏi đặt ra: tại sao nhà trường không dạy cho SV những kiến thức này? Ngân hàng, Giáo dục, Bệnh viện… tất cả những hệ thống này đã tồn tại lâu đời và rất cần có sự hỗ trợ của CNTT. Vậy, nếu được học những chuẩn mực của hệ thống, được chỉ dẫn phải xem xét, phân tích, thể hiện những yêu cầu cho những hệ thống trên thì SV quá khoẻ, đủ tự tin đi làm.

Đó là lý do có ngành học này. Ở đó, ngoài việc học về lập trình, SV còn được trang bị những kiến thức cơ bản về nghiệp vụ của những hệ thống lớn, hệ thống chuẩn mực. Nếu chịu khó học hỏi, mình ra trường chẳng những lập trình tốt mà còn có thể lấn sân qua quản lý, kinh tế.

Tôi chỉ nói chung chung như vậy. Chờ câu hỏi cụ thể (nếu có) vậy!

Theo DDTH.com

__________________
Trích lời anh __River__ bên ddth.com

Tôi cảm thấy tiếc cho dohungkb. Như vậy là em học đại học rồi. Hồi xưa nhóm bạn đại học của tôi chẳng phải đi học thêm gì (chắc do chưa có ai mở lớp), nhưng ai cũng hầu như có thể làm được những việc của kỹ thuật viên (láp ráp máy, cài mạng, quản trị mạng…) Còn ngôn ngữ lập trình C/C++, Visual C, Java cũng tự học mà thôi, nó chỉ là công cụ cho mình thực hiện mong muốn. Ngôn ngữ suy cho cùng cũng giống như Word, Excel, người ta đã làm sẵn, mình chỉ dùng thôi. Nói chung là mọi thứ đều có thể tự học. Đặc biệt, đã học đại học thì phải càng tự học. Giảng viên chỉ cung cấp cái sườn, mình cố gắng học thêm gấp 2-3 lần. Học đại học mà muốn là làm quản trị mạng nho nhỏ hay làm KTV thì tiếc lắm.